Cổng thông tin điện tử - Ủy ban quốc gia ứng phó thiên tai và tìm kiếm cứu nạn

SỰ CỐ TRÀN DẦU VÀ SỰ CỐ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN,  NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC- NHIỆM VỤ CỦA QUÂN ĐỘI

18:40 | 08/07/2019

 

            I. Sự cố ô nhiễm môi trường biển

 

          An ninh môi trường là một thành tố quan trọng của an ninh quốc gia, một phạm trù thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Ở nước ta bảo đảm an ninh môi trường được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Tại Nghị quyết số 41-NQ/TW khóa IX Đảng ta khẳng định: “Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần vào việc phát triển kinh tế-xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” .

          Trong số các thành phần của môi trường, môi trường biển đóng một vai trò quan trọng vì 71% bề mặt của Trái đất được bao phủ bởi nước và 90% sinh quyển là đại dương. Cùng với sự phát triển hướng ra biển của nhân loại-cái nôi cuộc sống của Trái đất- biển cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng của nạn ô nhiễm. Bảo vệ môi trường biển cũng chính là một phần quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường chung của con người.

          Từ xa xưa cho đến tận thế kỷ XX, con người tiếp nhận biển cả như một món quà tặng thiên nhiên mà không cần phải thực hiện nghĩa vụ nào. Những nguyên tắc đầu tiên, mang tính tập quán của luật biển là các nguyên tắc về tự do biển cả. Con người cho rằng các nguồn tài nguyên biển, sinh vật và không sinh vật là vô hạn và biển cả mênh mông có thể hấp thụ và chuyển hóa mọi chất thải mà con người đưa đến. Vấn đề bảo vệ môi trường biển hoàn toàn không được đặt ra.

          Nhận thức của con người đối với biển dần dần thay đổi cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và luật biển. Con người cũng dần hiểu rằng tài nguyên biển không phải là vô hạn và biển cả không phải là bãi rác. Việc phát triển các khu dân cư ven biển, phát triển công nghiệp dầu khí và khai thác khoáng sản ngoài khơi, sử dụng các năng lượng hạt nhân, sự tăng đột biến của các phương tiện giao thông hàng hải, các hoạt động du lịch…đưa lại hậu quả ô nhiễm môi trường biển.

          Bảo vệ môi trường biển đang trở thành một nhiệm vụ bức thiết. Con người đã nhận thức được tầm quan trọng của các thảm họa môi trường.

          Công ước Liên hợp quốc về biển  năm 1982 đã định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển: “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động thực vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển”.

         II. Những khó khăn thách thức trong khắc phục sự cố môi trường biển

         1. Khó khăn thách thức từ bên ngoài

          Việt Nam nằm cạnh tuyến đường hàng hải quan trọng Thái Bình Dương, có mật độ tàu thuyền qua lại lớn nên khả năng ô nhiễm do tàu thuyền gây ra cũng rất lớn. Số lượng dầu chuyên chở qua Biển Đông hàng năm vào khoảng 2,1 tỷ tấn, bất cứ thời diểm nào cũng có khoảng 51 tàu chở dầu cỡ lớn hoạt động trong khu vực. Từ năm 1991 lượng dầu nhập và xuất qua các cảng biển Việt Nam tăng mạnh tới năm 2010 đã có khoảng 40 triệu tấn dầu đã được vận chuyển qua các cảng và mức tăng trung bình khoảng 19,4% một năm.

Bên cạnh đó biển nươc ta tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc như Trường Giang (Quảng Đông), Sương Giang (đảo Hải Nam), Phòng Thành (Quảng Tây) chỉ cách Móng Cái, Quảng Ninh 50 km.

Trong khi hệ thống quan trắc giám sát, phát hiện và lực lượng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường biển của nước ta còn thiếu và yếu.

Vấn đề hợp tác quốc tế trong ứng phó khắc phục sự cố môi trường cũng còn hạn chế, hiện Việt Nam mới chỉ ký kết thỏa thuận về Cơ chế hợp tác chung ASEAN trong chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu.

        2. Khó khăn thách thức trong nước

        Hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí: là nguyên nhân không nhỏ gây ô nhiễm biển. Số lượng các giếng dầu tăng nhanh sẽ làm tăng thêm lượng dung dịch khoan, mùn khoan, nước khai thác thải vào môi trường biển, hiện nước ta có khoảng 340 giếng khoan ở các khu vực bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn, vịnh Thái Lan và Quần đảo Trường Sa. Theo các chuyên gia dầu khí tổng lượng dung dịch khoan, mùn khoan và nước khai thác chiếm 0,025% lượng dầu khai thác. Hoạt động của các nhà máy lọc dầu như Dung Quất, Nghi Sơn cũng tác động đáng kể đến môi trường vùng biển Quảng Ngãi và Thanh Hóa.

           Các văn bản quy phạm pháp luật: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố môi trường, còn một số bất cập, chồng chéo, thiếu tính đồng bộ. Năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển còn bất cập chưa theo kịp với sự phát sinh và tính chất ngày càng phức tạp của các vấn đề về môi trường.

          Bên cạnh đó nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp, các cơ chế chính sách khuyến khích xã hội hóa, huy động nguồn lực đầu tư từ xã hội cho công tác bảo vệ môi trường tuy đã được ban hành nhưng chưa thực sự phát huy hiệu quả.

           Nhận thức, ý thức trách nhiệm ô nhiễm, sự cố môi trường của cộng đồng dân cư, các cấp chính quyền, các tổ chức kinh tế còn hạn chế: Nhiều tổ chức, cộng đồng dân cư còn nghĩ đơn giản xem nhẹ cho rằng khắc phục sự cố môi trường là việc của chính quyền, của ai đó chứ không phải của mình, tình trạng coi trọng lợi ích kinh tế trước mắt coi nhẹ bảo vệ môi trường còn khá phổ biến, có nhiều nơi sản xuất xử lý nguồn thải chỉ mang tính đối phó. Cơ chế thu hút FDI được ưu tiên cao song chưa tính toán đầy đủ các chi phí cho bảo vệ môi trường.

           Lực lượng, phương tiện ứng phó sự cố môi trường và công tác kiểm tra giám sát còn nhiều hạn chế: Nước ta có 28 tỉnh, thành phố ven biển với 3260 km bờ biển và 2360 con sông chảy ra biển nên việc kiểm soát chất thải đổ ra biển hết sức khó khăn.

          Một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng trong xử lý sự cố môi trường là lực lượng, phương tiện ứng phó.Về năng lực ứng phó trên biển hiện mới chỉ có 03 Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu cấp quốc gia ở 03 miền Bắc, Trung, Nam và 03 Trung tâm ứng phó sự cố hóa chất độc ở 03 miền Bắc, Trung, Nam thuộc Bộ Quốc phòng quản lý còn ứng phó các lĩnh vực khác còn rất hạn chế, chưa có lực lượng chuyên trách và phương tiện cho ứng phó các sự cố môi trường khác, chính vì vậy khi có sự cố môi trường xảy ra, công tác ứng phó xử lý khắc phục môi trường chưa được kịp thời và còn nhiều lúng túng.

          III. Nhiệm vụ của quân đội

          Quân đội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt trong ứng phó sự cố, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, cứu hộ-cứu nạn. Những năm qua Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc Phòng đã lãnh dạo, chỉ đạo toàn quân triển khai quán triệt thực hiện nghiêm túc các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước. Quân đội xác định nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của quân đội.

          1. Về kết quả công tác ứng phó sự cố môi trường trên biển trong những năm gần đây:

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Trong những năm qua Bộ Quốc phòng đã chủ trì và phối hợp với các bộ ngành tham mưu cho Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điển hình là:

          -Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ứng phó sự cố tràn dầu (Quy chế số 02/2013/QĐ-TTg).

          -Phối hợp với Bộ Công thương xây dựng quy chế hoạt động ứng phó sự cố hóa chất độc (quy chế số 26/2016/QĐ-TTg).

          -Chủ trì xây dựng Nghị định số 30/2017/NĐ-CP quy định tổ chức hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

          -Chủ trì xây dựng Nghị định số 02/2019/NĐ-CP về phòng thủ dân sự trong đó hướng dẫn xây dựng kế hoạch ứng phó thảm họa môi trường.

          Đây là các văn bản quan trọng tạo hành lang pháp lý cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ ứng phó, khắc phục sự cố môi trường.

          Hiện nay dưới sự hướng dẫn của Cục Cứu hộ-Cứu nạn (cơ quan chuyên trách giúp việc Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự Quốc gia) các đơn vị trong toàn quân đã và đang xây dựng Kế hoạch ứng phó với các thảm hoạ theo Nghị định phòng thủ dân sự số 02/2019/NĐ-CP trong đó có kế hoạch ứng phó với thảm họa môi trường. Cục Cứu hộ -Cứu nạn được Bộ Quốc phòng giao đang xây dựng Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu và thực hiện đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu ảnh hưởng của nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển và các nhà máy hạt nhân trên đảo Hải Nam tới môi trường biển Việt Nam bằng các phương pháp mô phỏng mô hình và xây dựng Kế hoạch ứng phó với các sự cố hạt nhân xảy ra trên biển”.

         Công tác ứng phó thu gom trực tiếp: Trong những năm qua sự cố môi trường trên biển chủ yếu là sự cố tràn dầu, tính từ năm 2005 tới nay xảy ra 74 vụ tràn dầu. Quân đội đã huy động 5031 lượt cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ cùng 352 lượt phương tiện đã thu gom được hơn 4798 tấn dầu tràn, điển hình là các vụ:

          – Dầu thô vón cục trôi dạt vào bờ biển 28 tỉnh thành ven biển (không rõ nguyên nhân) năm 2006-2007.

          – Tàu Đức Trí chở 1.700 tấn dầu bị chìm tại vùng biển Bình Thuận năm 2008.

          – Vụ 10 tàu hàng bị chìm tại cảng Quy Nhơn do bão số 12 năm 2017.

           – Cháy tàu Hải Hà chở 900m3 xăng tại cảng K99 Hải Phòng, tháng 3 năm 2018.

           – Vụ tràn dầu DO tại khu vực cảng Lễ Môn, Thanh Hóa tháng 12 năm 2018…

         Công tác tuyên truyền: Những năm qua quân đội đã phối hơp tốt với các địa phương tổ chức 24 lớp tập huấn tuyên truyền về bảo bệ môi trường, ứng phó sự cố tràn dầu cho 24 tỉnh ven biển với trên 6000 lượt người tham dự nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, ý thức trách nhiệm trong thực hiện công tác ứng phó sự cố, bảo vệ môi trường.

          2. Nhiệm vụ của quân đội trong thời gian tới

          Trong thời gian tới dự báo tình hình thời tiết cực đoan, diễn biến khó lường có khả năng xảy ra thiên tai, thảm họa gây ra sự cố môi trường. Cùng với sự phát triển kinh tế nhu cầu vận tải hàng hóa trên biển tăng nhanh đặc biệt là tàu chở dầu và khai thác dầu khí làm gia tăng nguy cơ sự cố gây ô nhiễm môi trường biển, để tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, thực hiện tốt nhiệm vụ chủ động phòng ngừa ứng phó kịp thời, hiệu quả các tình huống sự cố, bảo vệ môi trường, cần tập trung thực hiện tốt những chủ trương giải pháp sau:

         Một là:Tập trung quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ ứng phó sự cố môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật về ứng phó sự cố môi trường.

        -Phối hợp với các cơ quan truyền thông, nhất là báo chí quân đội làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm ứng phó, khắc phục và giảm nhẹ thiệt hại do sự cố môi trường biển gây ra.

       -Tích cực đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện của các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng sẵn sàng lực lượng phương tiện kịp thời ứng phó khi có sự cố môi trường xảy ra.

          Hai là: Chủ động phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị quân đội với cơ quan chức năng các bộ ngành, địa phương rà soát, bổ sung các phương án ứng phó với sự cố môi trường biển sát với tình hình thực tế. Đặc biệt là chủ động tham mưu cho Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo và ứng phó sự cố môi trường trên biển.

         -Tổ chức duy trì nghiêm chế độ trực, công tác phối hợp nắm tình hình ở các cấp. Các cơ quan đơn vị chủ động phối hợp với các sở ngành tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương cùng cấp xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố môi trường biển.

         -Thời gian tới, Bộ Quốc phòng tiếp tục huy động các nguồn lực đầu tư mua sắm phương tiện, trang bị chuyên dụng nhằm nâng cao năng lực ứng phó sự cố môi trường cho các đơn vị, coi trọng kiện toàn lực lượng chuyên trách và huấn luyện chuyên sâu cho các lực lượng kiêm nhiệm.

         Ba là: Coi trọng công tác huấn luyện, diễn tập ứng phó với sự cố môi trường biển nhằm nâng cao khả năng cơ động, năng lực tổ chức chỉ huy hiệp đồng đảm bảo ứng phó có hiệu quả khi có sự cố xảy ra.

          Bốn là: Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng phó sự cố môi trường biển.

        – Các cơ quan đơn vị chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành liên quan đẩy mạnh quan hệ hợp tác với quân đội các nước trên thế giới để tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ trong chia sẻ kinh nghiệm, thông tin, trang thiết bị xây dựng hệ thống dự báo cảnh báo sự cố môi trường.

        – Tích cực thúc đẩy cơ chế hợp tác với lực lượng vũ trang các nước trong khu vực về hỗ trợ nhân đạo giảm nhẹ hậu quả thảm họa môi trường biển, thông qua đó tạo cơ hội để quân đội tiếp xúc, chia sẻ kinh nghiệm về huấn luyện, quản lý, phòng ngừa và các biện pháp ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao và mua sắm các trang thiết bị chuyên dụng hiện đại nâng cao năng lực ứng phó.

          Quân đội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt trong ứng phó sự cố, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, cứu hộ-cứu nạn. Thực tế trong nhiều năm qua đã chứng minh lực lượng quân đội luôn là lực lượng mạnh, được huy động để giải quyết kịp thời và có hiệu quả trong việc phòng chống và khắc phục hậu quả do những sự cố môi trường và bão lụt gây ra, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “chiến đấu thời bình”.

Th.s Vũ Thế Vinh - Trợ lý phòng Ứng phó sự cố tràn dầu