Cổng thông tin điện tử - Ủy ban quốc gia ứng phó thiên tai và tìm kiếm cứu nạn

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH QUỐC GIA ỨNG PHÓ SCTD, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN.

18:21 | 28/07/2019

    

1. Sự cần thiết xây dựng Kế hoạch QGUPSCTD

        a) Sự cần thiết

Sự cố tràn dầu hiện đang là mối hiểm họa tiềm tàng đối với các quốc gia ven biển, nguyên nhân dẫn đến sự cố tràn dầu là do sự cố tai nạn hàng hải, sự cố hoạt động dầu khí như đứt vỡ đường ống, phun trào giếng khoan và các nguyên nhân khác…Trong các sự cố về môi trường thì sự cố tràn dầu tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cao hơn cả, mức độ ô nhiễm trên diện rộng và tác dộng hủy hoại môi trường rất lớn và lâu dài có thể trở thành thảm họa. Vì vậy, sự cố tràn dầu được xác định là 1 trong 12 tình huống cơ bản cần xây dựng Kế hoạch Ứng phó cấp quốc gia tại Quyết định 1041/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án quy hoạch tổng thể lĩnh vực Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, đồng thời cũng xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị các cấp.

Việt Nam nằm cạnh tuyến đường hàng hải quan trọng Thái Bình Dương, có mật độ tàu thuyền qua lại lớn nên khả năng ô nhiễm do tàu thuyền gây ra cũng rất lớn. Số lượng dầu chuyên chở qua Biển Đông hàng năm vào khoảng 2,1 tỷ tấn, bất cứ thời diểm nào cũng có khoảng 51 tàu chở dầu cỡ lớn hoạt động trong khu vực. Từ năm 1991 lượng dầu nhập và xuất qua các cảng biển Việt Nam tăng mạnh tới năm 2010 đã có khoảng 40 triệu tấn dầu đã được vận chuyển qua các cảng và mức tăng trung bình khoảng 19,4% một năm.

Theo số liệu tổng hợp thống kê theo dõi tính từ năm 2005 tới nay xảy ra 74 vụ tràn dầu. Quân đội đã huy động 5031 lượt cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ cùng 352 lượt phương tiện đã thu gom được hơn 4798 tấn dầu tràn, điển hình là các vụ:

– Dầu thô vón cục trôi dạt vào bờ biển 28 tỉnh thành ven biển (không rõ nguyên nhân) năm 2006-2007.

– Tàu Đức Trí chở 1.700 tấn dầu bị chìm tại vùng biển Bình Thuận năm 2008.

– Vụ 10 tàu hàng bị chìm tại cảng Quy Nhơn do bão số 12 năm 2017.

– Cháy tàu Hải Hà chở 900m3 xăng tại cảng K99 Hải Phòng, tháng 3 năm 2018.

– Vụ tràn dầu DO tại khu vực cảng Lễ Môn, Thanh Hóa tháng 12 năm 2018…

          Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu giai đoạn 2001-2010 đã được Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 129/2001/QĐ-TTg ngày 29/08/2001 là một văn bản quan trọng tạo hành lang pháp lý và đặt nền móng vững chắc cho sự ra đời của hệ thống tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu từ Trung ương đến địa phương cùng hàng hoạt văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn và duy trì hoạt động của hệ thống.

Đến nay Kế hoạch số 129 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình và cần thiết phải có một Kế hoạch mới phù hợp với tình hình hiện nay bởi phạm vi về thời gian Kế hoạch 129 giới hạn đến năm 2010, đã qua từ rất lâu, nội dung hiện nay cũng không còn phù hợp như:

-Sự chia tách các tỉnh, thành phố, các bộ, ngành thành các đơn vị hành chính mới dẫn đến sự điều chỉnh trong chức năng; nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương;

– Sự ra đời của hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan;

– Sự phát triển của ngành công nghiệp đầu khí và thương mại xăng dầu tăng trưởng đột biến;

– Hệ thống tổ chức Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn từ Trung ương đến

địa phương ngày càng được kiện toàn và nâng lên tầm cao mới;

– Sự hội nhập hợp tác quốc tế về lĩnh vực ứng phó sự cố tràn dầu đã có những bước tiến mạnh mẽ và ngày càng sâu rộng…

Trong khi Kế hoạch 129 không đề cập đến vấn đề hợp tác quốc tế, một số nhiệm vụ giao cho các bộ, ngành, cơ quan đến nay chưa thực hiện được…Vì vậy việc xây dựng một Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu mới là một yêu cầu tất yếu khách quan.

        b) Mục tiêu Kế hoạch

-Sử lý kịp thời, hiệu quả sự cố tràn dầu, giảm mức thiệt hại thấp nhất về kinh tế, xã hội và môi trường do sự cố tràn dầu gây ra.

-Đảm bảo tính thống nhất trong chỉ đạo, điều hành và chỉ huy ứng phó sự cố tràn dầu.

-Hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật về ứng phó sự cố tràn dầu, đồng thời tích cực tham gia hội nhập khu vực và quốc tế về ứng phó sự cố tràn dầu, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái. Kế hoạch Quôc sgia ứng phó sự cố tràn dầu thích ứng với biến đổi khí hậu.

-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu từ Trung ương đến địa phương.

-Tăng cường nguồn lực cho các hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường do sự cố tràn dầu gây ra.

-Hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học trong ứng phó sự cố tràn dầu và khắc phục hậu quả môi trường.

       2. Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện

       a) Cách tiếp cận

Tiếp cận phát triển bền vững: Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt nhiệm vụ là những quan điểm về phát triển bền vững, bao gồm quản lý tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao chất lượng môi trường sống, phát triển kinh tế xã hội trong khả năng giới hạn  của các hệ sinh thái, đó là sự kết hợp các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường theo hướng bền vững hơn về mặt sinh thái.

Tiếp cận tổng hợp: Trên cơ sở đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đề xuất thích hợp trong ứng phó sự cố tràn dầu theo vùng, lãnh thổ.

Tiếp cận sinh thái hệ thống: Mỗi vùng đều có một hệ sinh thái riêng gồm nhiều tiểu vùng với đặc trưng về các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, các tác động qua lại bởi các yếu tố khí hậu thời tiết do đó việc tiếp cận này làm cơ sở cho các đánh giá diễn biến khi xảy ra SCTD.

Tiếp cận liên ngành: Tập trung mọi nguồn lực phục vụ công tác ứng phó sự cố tràn dầu.

Kết hợp giữa lý luận với thực tiễn: Hòa hợp yêu cầu về ứng phó sự cố tràn dầu với khả năng thực tế về cải tiến tổ chức, quản lý nhà nước theo ngành và địa phương.

          b) Phương pháp thực hiện

Các phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực địa: Nhằm thu thập các tài liệu, số liệu, mẫu vật về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên.

Phương pháp điều tra lịch sử: Điều tra trong nhân dân về các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các dạng tai biến thiên nhiên, các phong tục tập quán bảo vệ tài nguyên môi trường.

Các phương pháp ngiên cứu văn phòng: Xử lý, phân tích, đánh giá tổng hợp các số liệu, mẫu vật điều tra cơ bản thu thập được ở các địa phương và các cơ quan quản lý, nghiên cứu khác nhau của vùng nghiên cứu. Trên cơ sở đó xác định các điều kiện thuận lợi, thời cơ và những khó khăn, thách thức chủ yếu làm cơ sở định hướng công tác ứng phó sự cố tràn dầu.

Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo, xin ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ khoa học, các nhà quản lý kinh doanh, đặc biệt chú ý lấy ý kiến của các cán bộ địa phương.

– Phương pháp phân tích xu thế diễn biến nhằm đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn và các kế hoạch thích ứng.

Phương pháp phân tích chi phí-lợi ích: Phân tích, đánh giá hiệu quả tác động của công tác ứng phó sự cố tràn dầu đến đời sống kinh tế xã hội.

Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu được phê duyệt và ban hành sẽ là một thành tố quan trọng của chiến lược đảm bảo an ninh môi trường, một văn bản pháp lý quan trọng giúp các địa phương, bộ ngành tháo gỡ những vướng mắc trong thực hiện công tác ứng phó sự cố tràn dầu.

Trung tá, Th.s Vũ Thế Vinh - Trợ lý phòng Ứng phó SCTD