Cổng thông tin điện tử - Ủy ban quốc gia ứng phó thiên tai và tìm kiếm cứu nạn

MÔ HÌNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ TÌM KIẾM, CỨU NẠN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

15:21 | 04/12/2018

Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản (Japan Coast Guard – JCG) thuộc Bộ Giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng Nhật Bản, là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất về hoạt động phối hợp nghiệp vụ TKCN hàng hải của Nhật Bản được thành lập từ ngày 01/5/1948.

 

I. MÔ HÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TKCN CỦA NHẬT BẢN
1. Đặc điểm chính của Nhật Bản
Diện tích lãnh thổ xấp xỉ 380.000 km2
Vùng nước nội thủy xấp xỉ 430.000 km2
Vùng Đặc quyền kinh tế xấp xỉ 4.050.000 km2
2. Chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản
Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản (Japan Coast Guard – JCG) thuộc Bộ Giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng Nhật Bản, là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất về hoạt động phối hợp nghiệp vụ TKCN hàng hải của Nhật Bản được thành lập từ ngày 01/5/1948. Japan Coast Guard có các chức năng chính như sau:
– Đảm bảo an toàn giao thông trên biển
– Giữ gìn môi trường biển
– Chỉ đạo các hoạt động TKCN trên biển
– Đảm bảo an toàn cho các hoạt động giải trí trên biển
– Duy trì an ninh và trật tự trên biển
– Cung cấp các dịch vụ thủy văn
– Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hàng hải
– Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện nhiệm vụ
3. Mô hình tổ chức Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản
3.1. Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản
Ngoài trụ sở chính của Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản đặt tại thủ đô TOKYO, Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản có 11 vùng trên khắp lãnh thổ.
Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản luôn duy trì 1 hệ thống TKCN chuyên nghiệp, đáp ứng kịp thời các tình huống nguy cấp, với phương châm “Thời gian là bản chất trong hoạt động TKCN”, JCG duy trì hệ thống thường trực 24/24, những đội TKCN chuyên dụng với kỹ năng cao và thiết bị hiện đại sẽ được điều đến ứng kịp thời các thảm họa hàng hải như: lật tàu, chìm đắm, hỏa hoạn… Ngoài ra, JCG còn đóng vai trò tích cực vào việc phòng ngừa tai nạn, sự cố hàng hải thông qua việc hướng dẫn, trợ giúp hàng hải an toàn cho tàu thuyền.
Nhật Bản gánh vác trách nhiệm chính là thành lập hệ thống TKCN mang tính quốc tế theo các quy định của Công ước SAR – 79, vì Nhật Bản có vùng trách nhiệm TKCN lớn hơn 36 lần diện tích lãnh thổ. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng khuyến khích các quốc gia láng giềng hợp tác trong việc TKCN.
3.2. Cơ quan Phòng vệ bờ biển khu vực
Các cơ quan phòng vệ bờ biển khu vực (Regional Coast Guard Headquarters) trực thuộc Japan Coast Guard và thực hiện các chức năng của Japan Coast Guard tại các khu vực phụ trách của mình. Vùng trách nhiệm tìm kiếm, cứu nạn của Nhật Bản được chia thành 11 khu vực tương ứng với 11 cơ quan phòng vệ bờ biển khu vực. Các cơ quan phòng vệ bờ biển khu vực đều được trang bị hiện đại với các đội TKCN chuyên nghiệp. Mỗi vùng TKCN có Văn phòng Japan Coast Guard, các Trạm phòng vệ, Trạm hàng không, Trạm quan trắc, Trạm an ninh đặc biệt, Trạm cứu nạn đặc biệt và các Trung tâm tư vấn giao thông…
3.3. Phương tiện, trang thiết bị TKCN
Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản là một trong những lực lượng có trang thiết bị, phương tiện và chuyên nghiệp nhất trong lĩnh vực TKCN trên biển.
JCG được trang bị đội tàu tuần tiễu, máy bay, hệ thống thông tin liên lạc hiện đại bao gồm:
– Tàu tuần dương có máy bay trực thăng: 122
– Tàu tuần tiễu: 234
– Tàu chuyên dụng bảo vệ và TKCN: 88
– Tàu nghiên cứu thủy văn: 13
– Tàu trợ giúp hàng hải: 1
– Tàu chở phao: 3
– Tàu chở thiết bị trợ giúp hàng hải: 37
– Tàu huấn luyện: 3
– Máy bay cánh bằng tìm kiếm chuyên dụng: 27
– Máy bay trực thăng cứu nạn: 45
Ngân sách dành cho Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản hàng năm khoảng 178.979 triệu Yên Nhật
Lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản bao gồm 12.324 nhân viên
Các thiết bị thông tin liên lạc, báo hiệu an toàn hàng hải: Hệ thống thông tin phục vụ TKCN hàng hải: 22 trạm thông tin TKCN, các trạm GMDSS, hệ thống thông tin cấp cứu công cộng gọi 3 số 118, hệ thống cơ sở dữ liệu và điều hành hoạt động TKCN bằng vi tính, hệ thống thông báo tàu (Ship Reporting System), hệ thống thông tin và dự báo khí tượng thủy văn và các trang thiết bị chuyên dùng khác.
Sơ đồ tổ chức của Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản (JCG)
4. Quy trình hoạt động TKCN của CQ phòng vệ bờ biển Nhật Bản
– Thông tin liên quan đến TKCN được chuyển đến Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản qua Hệ thống thông tin báo nạn toàn cầu (GMDSS) bao gồm: Hệ thống Cospas – Sarsat, Hệ thống liên lạc vệ tinh, MF, HF và VHF, phao vô tuyến chỉ báo vị trí khẩn cấp (EPIPB). Ngoài ra, Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản còn thiết lập hệ thống gọi khẩn cấp 3 số 118 cho điện thoại hàng hải và điện thoại di động trong trường hợp khẩn cấp. Cơ quan phòng vệ bờ biển Nhật Bản còn khuyến khích người dân sử dụng vô tuyến điện hoặc điện thoại di động để liên lạc với đất liền trong trường hợp các tàu nhỏ gặp sự cố trên biển.
Sơ đồ xử lý tình huống TKCN của Cơ quan Phòng vệ bờ biển Nhật Bản
II. MÔ HÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TKCN CỦA SINGAPORE
1. Ủy ban quốc gia TKCN Singapore (National SAR committee)
Cơ quan quyền lực cao nhất trong hệ thống phối hợp TKCN Singapore là Ủy ban quốc gia TKCN. Ủy ban quốc gia TKCN bao gồm các cơ quan: Bộ Giao thông vận tải và công nghệ thông tin, Bộ Quốc phòng, Cơ quan quản lý cảng và hàng hải Singapore (MPA), Cục hàng không dân dụng Singapore (CAAS) và Lực lượng cảnh sát biển. Ủy ban quốc gia TKCN là nơi ra các quyết định về chính sách, chiến lược tìm kiếm, cứu nạn hàng không và hàng hải.
2. Nhóm công tác (Working Groups)
Thay mặt cho Ủy ban quốc gia thực thi các chính sách, chiến lược về tìm kiếm, cứu nạn, nhóm công tác bao gồm các quan chức đại diện các cơ quan trên và làm việc theo nguyên tắc sau:
– Thống nhất tất cả các phương tiện thuộc các cấp cơ sở có khả năng hoạt động TKCN.
– Rà soát tất cả các phương tiện có thể tham gia hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trong từng thời kỳ, đưa ra các hướng dẫn, khuyến cáo để nâng cao khả năng hoạt động TKCN của các phương tiện này.
– Xây dựng, phát triển và xét duyệt các kế hoạch hoạt động TKCN
– Tham mưu cho Ủy ban quốc gia trong việc thực hiện các hiệp định về TKCN ký kết với các tổ chức nước ngoài.
– Sắp xếp, hướng dẫn việc luyện tập, diễn tập TKCN để nâng cao khả năng của những người tham gia hoạt động TKCN.
3. Kế hoạch quốc gia TKCN (National SAR Plan)
Theo kế hoạch quốc gia về TKCN, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban quốc gia TKCN, Cơ quan quản lý cảng và hàng hải Singapore chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động phối hợp TKCN thuộc lĩnh vực hàng hải, Cục hàng không dân dụng Singapore chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động phối hợp TKCN hàng không.
4. Trung tâm phối hợp cứu nạn Singapore (Singapore RCC)
Trung tâm phối hợp cứu nạn Singapore được thành lập năm 1976, có trụ sở đặt tại Trung tâm điều hành bay Singapore, Cục hàng không dân dụng Singapore điều hành hoạt động của Trung tâm phối hợp cứu nạn Singapore. Trung tâm phối hợp cứu nạn là cơ quan đại diện cho Ủy ban quốc gia trong việc thực hiện chức năng phối hợp tất cả các hoạt động TKCN ở cấp độ cao nhất. Trung tâm có các phương tiện thông tin liên lạc và kết nối trực tiếp để điều hành trong các hoạt động TKCN với các cơ quan không chuyên như: Lực lượng không quân Singapore (RSAF), Hải quân Singapore (RSN), Cảnh sát phòng vệ bờ biển (PCG), Cục cảnh sát, Trung tâm điều khiển hoạt động cảng biển (POCC), Cục khí tượng thủy văn, Quân đội Singapore (SCDF) và các cơ quan chức năng khác.
5. Cơ chế hoạt động của Singapore RCC khi có tai nạn
Khi một tai nạn hàng hải xảy ra, Cơ quan quản lý cảng và hàng hải Singapore (MPA) sẽ cử 2 quan chức của mình, một Chỉ huy phối hợp nghiệp vụ (SMC) và một trợ lý tới RCC để chỉ huy phối hợp các hoạt động TKCN. SMC sẽ yêu cầu một số trợ lý từ các cơ quan RSAF, RSN, CAAS, PCG, Cục cảnh sát và SCDF cùng tham gia chỉ huy phối hợp. Trong trường hợp tai nạn hàng không, Cục hàng không dân dụng Singapore (CAAS) sẽ cử SMC và trợ lý tới RCC thực thi nhiệm vụ, MPA sẽ đóng vai trò là một trong những trợ lý.
Trong tất cả các trường hợp tai nạn hàng không hay hàng hải, các phương tiện TKCN và các cơ quan chức năng TKCN của các ngành đều được đặt trong tình trạng báo động. Các nguồn lực TKCN và các đơn vị cứu nạn phải luôn duy trì chế độ thường trực. Các trợ lý từ các cơ quan phối hợp phải đảm bảo duy trì các phương tiện của mình trong tình trạng sẵn sàng làm nhiệm vụ. Chỉ huy phối hợp nghiệp vụ (SMC) từ MPA hoặc CAAS sẽ quyết định việc điều động và giao nhiệm vụ cho từng bộ phận.
Sơ đồ tổ chức của hệ thống phối hợp TKCN Singapore
III. MÔ HÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TKCN CỦA ÚC
1. Sơ đồ tổ chức
2. Cơ chế hoạt động
– Vùng trách nhiệm TKCN: Vùng TKCN hàng không và hàng hải Australia trùng nhau bao gồm vùng biển Australia kéo dài về phía Nam cực. Không chia các vùng TKCN khu vực (Sub-region).
– Cơ chế phối hợp:
Australia là quốc gia thành viên đã tham gia Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển (SOLAS); Công ước SAR-79; Công ước hàng không quốc tế… nên có nghĩa vụ phải cung cấp các dịch vụ và phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không và hàng hải trên vùng trời, vùng biển, vùng lãnh hải và cả vùng trách nhiệm TKCN.
Tổ chức TKCN quốc gia bao gồm cả các tổ chức thuộc Hội đồng liên bang (Commonwealth) và các cơ quan, đơn vị thuộc các nhà nước thuộc liên bang (State and Teritory- sau đây gọi tắt là Địa phương).
Cục An toàn Hàng hải quốc gia (The Aus. Maritime Safety Authority) và Lực lượng Quốc phòng (Aus. Defence Force) là các tổ chức thuộc hệ thống TKCN trực thuộc Hội đồng liên bang.
Các đơn vị cảnh sát và các lực lượng vũ trang khác tại các Địa phương là các tổ chức thuộc hệ thống TKCN do các Nhà nước trực thuộc liên bang quản lý.
Chính quyền liên bang thông qua Cục an toàn hàng hải có trách nhiệm chỉ đạo công tác phối hợp các lực lượng thuộc ngành Hàng hải, Bộ quốc phòng Aus. và các cơ quan đơn vị thuộc các chính quyền Địa phương trực thuộc Liên bang Aus.
Chính quyền liên bang thông quan lực lượng quốc phòng chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ TKCN hàng hải, hàng không và trên mặt đất.
Trung tâm chỉ huy hỗn hợp (Headquarters Joint Operations Command) thuộc Bộ quốc phòng, có trách nhiệm quản lý, điều hành, phối hợp hoạt động tất cả các lực lượng Quốc phòng tham gia các hoạt động liên quan TKCN.
3. Chức năng và nhiệm vụ chính của Trung tâm PHTKCN Australia
– Phối hợp TKCN trong vùng trách nhiệm của hàng không quốc gia.
– Phối hợp với các lực lượng Quốc phòng và Địa phương thực hiện nghĩa vụ TKCN trên vùng biển trách nhiệm.
– Quản lý, điều hành Trung tâm điều khiển, xử lý các tín hiệu báo nạn từ Copas-Sarsat.
– Điều hành hệ thống thông báo tàu (Australia Ship Reporting System – AUSREP).
– Công bố các thông tin hàng hải (Maritime Safety Information).
– Cung cấp các thông tin liên quan hoạt động trên biển khác như: ô nhiễm dầu, khoan thăm dò, khai thác trên biển…
– Cung cấp các trợ giúp chuyên ngành cho các cơ quan, đơn vị khác thực hiện nghĩa vụ TKCN trên biển.
– Cung ứng các trợ giúp các đơn vị phản ứng nhanh nhằm giúp họ thực hiện tốt nghĩa vụ TKCN.
IV. MÔ HÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TKCN CỦA ANH QUỐC
1. Chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan hàng hải và bờ biển Anh Quốc
Cơ quan hàng hải và bờ biển Anh Quốc (MCA) chịu trách nhiệm thực thi chính sách an toàn hàng hải của Chính phủ, bao gồm việc phối hợp hoạt động TKCN hàng
hải thông qua Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoàng gia Anh (HM Coastguard). Chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan hàng hải và bờ biển Anh Quốc bao gồm:
– Phòng ngừa tai nạn
– Đảm bảo An toàn tàu biển
– Đảm bảo an toàn hàng hải
– Phòng ngừa ô nhiễm môi trường
– Đảm bảo an toàn cho người đi biển (thuyền viên tàu biển và tàu cá)
– Tìm kiếm, cứu nạn
MCA có 3 bộ phận chính như sau:
Hoạt động hàng hải
An toàn hàng hải và phòng chống thảm họa
Văn phòng
HM Coastgard SAR
Quản lý tàu biển
Thư ký và kế hoạch
Chống ô nhiễm
Trang thiết bị của tàu
Quan hệ công chúng
Điều tra, khảo sát
Tiêu chuẩn thuyền viên
Tài chính
Hành pháp
Đăng ký tàu biển và thuyền viên
Nhân sự và đào tạo
2. Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoàng gia Anh (HM Coastguard)
Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoàng gia Anh trực thuộc Cơ quan hàng hải và bờ biển Anh Quốc được thành lập từ năm 1925 theo Luật phòng vệ bờ biển Anh Quốc, HM Coastguard có trách nhiệm duy trì và phối hợp các lực lượng dân sự tiến hành các hoạt động TKCN hàng hải trong khu vực biển trách nhiệm của Anh Quốc.
HM Coastguard chủ trì việc phối hợp các hoạt động TKCN dựa vào quyền lực của Ủy ban tìm kiếm, cứu nạn Anh Quốc (UK SAR Committee). Ủy ban tìm kiếm, cứu nạn bao gồm các thành viên của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến các hoạt động TKCN hàng hải của nước Anh.
3. Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải (MRSCs)
HM Coastguard có 18 Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải và dọc theo bờ biển và các đảo ngoài khơi của nước Anh và lực lượng bảo vệ bờ biển London với trên 3.100 nhân viên hình thành lên trên 400 đội cứu nạn chuyên nghiệp (Coast guard Rescue Teams – CRT).
4. Vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng hải
Toàn bộ vùng biển trách nhiệm TKCN của nước Anh rộng xấp xỉ 1,2 triệu km2 và được chia làm 3 khu vực tìm kiếm, cứu nạn (SRR) tương ứng với 19 Trung tâm TKCNHH khu vực. Các khu vực được phân thành:
Khu vực phía Đông
Khu vực xứ Wales và phía Tây
Khu vực Scotland và Bắc Ireland
Mỗi khu vực tương ứng có 6 Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải. Riêng khu vực phía Tây có thêm lực lượng bảo vệ bờ biển London chịu trách nhiệm phối hợp TKCN hàng hải trên sông Thames
Phương tiện, trang thiết bị:
Tại các Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải khu vực đều được trang bị các phương tiện, trang thiết bị TKCN chuyên nghiệp hiện đại bao gồm:
Các tàu chuyên dụng TKCN xa bờ
Các tàu TKCN chuyên dụng gần bờ
Máy bay tìm kiếm, trực thăng cứu nạn.
Phòng điều hành phối hợp hoạt động TKCN Hệ thống điều hành bằng máy vi tính Hệ thống thông tin mặt đất, thông tin vệ tinh.. Các thiết bị TKCN chuyên dụng.
Hình 7. Vùng TKCN Vương quốc Anh
 
Hình 8. Sơ đồ tổ chức của hệ thống phối hợp TKCN Vương quốc Anh
V. MÔ HÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TKCN CỦA HOA KỲ
 
1. Ủy ban quốc gia tìm kiếm, cứu nạn (NSARC)
Ủy ban quốc gia TKCN là Ủy ban cấp nhà nước, chịu trách nhiệm cao nhất trong việc phối hợp các cơ quan dân sự liên quan tiến hành các hoạt động TKCN trong phạm vi lãnh thổ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Các thành viên bao gồm:
Bộ quốc phòng – DOD
Lực lượng không quân Hoa Kỳ – USAF
Trung tâm phối hợp cứu nạn USAF
Bộ nội vụ – DOI
Cơ quan quản lý vườn quốc gia
Bộ thương mại – DOC
Viện hải dương học và khí quyển quốc gia – NOAA Hệ thống vệ tinh NOAA
Bộ giao thông – DOT
Lực lượng phòng vệ bờ biển – US Coast Guard
Chương trình TKCN US Coast Guard
Cơ quan hàng không vũ trụ quốc gia – NASA
Phòng nghiệp vụ TKCN NASA
2. Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ – US Coast Guard
Trong Ủy ban quốc gia TKCN, US Coast Guard là cơ quan chịu trách nhiệm chỉ huy phối hợp nghiệp vụ TKCN trên biển. US Coast Guard có 5 chức năng chủ yếu sau:
An toàn hàng hải
Tìm kiếm, cứu nạn
An toàn hàng hải
An toàn hoạt động giải trí trên biển
Tuần tiễu
Dịch vụ hàng hải
Hỗ trợ hàng hải
Dịch vụ phá băng
Quản lý cầu
Quản lý giao thông đường thủy
An ninh trên biển
Ngăn chặn ma túy
Ngăn chặn nhập cư trái phép
Kiểm soát việc thực hiện pháp luật và hiệp định
Kiểm soát việc thực hiện Luật hàng hải
Quốc phòng
Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng nói chung
An toàn quốc gia
An toàn cảng biển và đường thủy
Phá băng địa cực
Bảo vệ các nguồn tài nguyên
Đào tạo, phòng ngừa, ứng phó, giám sát ô nhiễm hàng hải
Kiểm tra tàu thuyền nước ngoài
Bảo vệ các nguồn sinh vật biển
Nghiên cứu về khoa học biển và môi trường
TKCN là nhiệm vụ cơ bản nhất của US Coast Guard. Việc giảm thiểu số người chết, mất tích, bị thương, giảm thiểu thiệt hại tài sản trong các tai nạn, sự cố hàng hải và giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển luôn được đặt mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong các hoạt động của US Coast Guard. Hệ thống phối hợp TKCN của US Coast Guard bao gồm các trạm đa chức năng, các tàu thuyền chuyên dụng, máy bay TKCN… được liên kết với nhau bằng một mạng thông tin hoàn chỉnh. US Coast Guard được công nhận là một trong những tổ chức hàng đầu về TKCN trên toàn thế giới.
3. Kế hoạch TKCN quốc gia (National SAR Plan)
Kế hoạch TKCN quốc gia phân chia vùng trách nhiệm TKCN của Hoa Kỳ thành các khu vực TKCN trên biển và trên đất liền. Các khu vực TKCN này mang tính quốc tế hóa rất cao. Toàn bộ vùng trách nhiệm TKCN trên biển và đất liền của Hoa Kỳ được chia làm 17 khu vực. US Coast Guard chịu trách nhiệm phối hợp TKCN tại các khu vực 1, 5, 7, 8, 9, 11, 13, 14, 17 tương ứng các cơ quan Coast Guard khu vực (Coast Guard District HQ). US Coast Guard duy trì các phương tiện thường trực TKCN dọc theo bờ biển và các vịnh của Hoa Kỳ, tại Alaska, đảo Hawaii, Guam và Puerto Rico cũng như tại hồ Great và vùng nội thủy Hoa Kỳ.
4. Hệ thống tự động hỗ trợ cứu nạn tàu (AMVER)
AMVER trực thuộc US Coast Guard là hệ thống cơ sở dữ liệu duy nhất như một hệ thống thông báo tàu (Ship Reporting System) mang tính toàn cầu và hoàn toàn tự nguyện. Các cơ quan chức năng về TKCN trên toàn thế giới có thể sử dụng hệ thống AMVER để hỗ trợ các hoạt động TKCN trên biển. Nhiệm vụ của hệ thống AMVER là cung cấp nhanh chóng, theo yêu cầu, cho các cơ quan chức năng TKCN các thông tin về vị trí và đặc điểm của các tàu đang hàng hải trong khu vực xảy ra tai nạn. Với hệ thống này, người chỉ huy phối hợp TKCN có thể nhận dạng được các tàu thuyền đang hoạt động trong khu vực tai nạn để yêu cầu các tàu thuyền này có các hoạt động hỗ trợ cứu nạn.
Sơ đồ tổ chức của Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ